‘Xây dựng đại học tinh hoa cần bốn đột phá thể chế’

Xây dựng đại học tinh hoa không nhằm chạy theo danh xưng hay tạo ra sự phân biệt ‘tầng lớp’ trong giáo dục đại học, mà để kiến tạo những ‘ngọn hải đăng’ tri thức, dẫn dắt hệ thống giáo dục quốc gia – theo GS. TS Trần Đức Viên.

Nhằm thúc đẩy đào tạo nhân tài, Việt Nam sẽ đầu tư mạnh và tạo cơ chế đặc thù cần thiết để phát triển 3-5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, như tinh thần Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị đã xác định. Thực hiện chủ trương này, hiện nay, Bộ GD&ĐT đang xây dựng các dự thảo cụ thể liên quan.

Để làm rõ những vấn đề cốt lõi của quyết sách mới, Tia Sáng đã phỏng vấn GS. TS. NGND Trần Đức Viên, nguyên Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, người có mối quan tâm sâu sắc và nhiều năm tìm hiểu về giáo dục đại học.

PV: Ngày nay, chúng ta thường gọi Harvard, Stanford, Humboldt hay Thanh Hoa là những đại học tinh hoa, nhưng không phải ngay từ khi ra đời họ đã mang vị thế đó. Nhìn lại lịch sử, những trường đại học này đã vươn lên thành các trung tâm tri thức hàng đầu trong những điều kiện nào?

GS. TS Trần Đức Viên: Trên thế giới, ở tất cả các quốc gia phát triển – Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc… – đại học tinh hoa không chỉ đã ra đời rồi mà còn đã và đang đóng vai trò là trụ cột sống còn của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.

Lịch sử phát triển giáo dục đại học cho thấy các đại học tinh hoa ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế – xã hội rất đặc thù.

Tại Đức, đại học tinh hoa là nơi gắn kết chặt chẽ giữa giảng dạy và nghiên cứu tự do, giải phóng tri thức khỏi sự can thiệp của giáo hội và chính quyền phong kiến hồi đầu thế kỷ 19.

 Đại học Humboldt Berlin là một trong những đại học đặt nền móng cho mô hình đại học nghiên cứu hiện đại. Ảnh: HU Berlin

Trong khi đó, sự kết hợp giữa tài trợ hiến tặng tư nhân và Đạo luật Land-Grant ở Mỹ vào thế kỷ 19 đã biến các trường đại học thành động lực phát triển kinh tế tư bản và công nghiệp hóa.

Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, đại học tinh hoa trở thành pháo đài nghiên cứu các công nghệ cốt lõi – như bán dẫn, AI, sinh học lượng tử, năng lượng mới – nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và tự chủ công nghệ chiến lược.

Đối với Việt Nam, việc đặt vấn đề xây dựng đại học tinh hoa trong bối cảnh hiện nay là một tất yếu khách quan, xuất phát từ khát vọng bứt phá trong Kỷ nguyên mới, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng cốt lõi.

Từ những trường hợp đó, có thể nhận diện những đặc điểm chung nào của một đại học tinh hoa?

Đại học tinh hoa là nhóm trường dẫn đầu trong hệ thống quốc gia về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Những trường thuộc nhóm tinh hoa ở các nước phát triển còn đồng thời có năng lực và uy tín tạo ảnh hưởng ở phạm vi quốc tế hay nói cách khác là đạt tới vị thế đại học đẳng cấp thế giới.

Một điểm chung dễ thấy ở các trường đại học tinh hoa là họ đều có nguồn lực dồi dào, hoặc do nhà nước tài trợ hoặc từ các nguồn hiến tặng hoặc cả hai.

ĐH Thanh Hoa, một đại học tinh hoa của Trung Quốc. Ảnh: THU

Chẳng hạn, Liên minh C9 – hay C9 League – của Trung Quốc gồm 9 đại học nghiên cứu hàng đầu – Bắc Kinh, Thanh Hoa, Phục Đán, Giao thông Thượng Hải, Triết Giang, Khoa học Công nghệ Trung Quốc, Nam Kinh, Cáp Nhĩ Tân, Giao thông Tây An – được nhà nước đầu tư nguồn lực ‘siêu’ khổng lồ, đủ sức bứt phá để phát triển thành các đại học đẳng cấp thế giới và ngành học đẳng cấp thế giới trong thời gian ngắn, chỉ sau 20-25 năm.

Trong khi đó, các đại học tư nhân như Harvard hay Stanford vận hành tài chính độc lập nhờ quỹ hiến tặng lên đến hàng chục tỷ USD và được đầu tư sinh lời chuyên nghiệp.

Nhờ nguồn lực dồi dào, họ có khả năng thiết lập hệ thống trả lương theo thị trường tự do, sa thải nhân sự kém hiệu quả và thu hút nhân tài toàn cầu. Nhưng quan trọng hơn, các đại học tinh hoa được tự chủ hoàn toàn về học thuật, nhân sự, tài chính và tài sản, và chiến lược phát triển của mình.

Nếu nguồn lực quốc gia có hạn và không thể đầu tư mọi trường đại học theo cùng một chuẩn, việc lựa chọn một số trường để dồn lực phát triển tinh hoa sẽ đặt ra vấn đề bất bình đẳng?

Mối lo ngại về sự bất bình đẳng hay tạo ra ‘đặc quyền bề trên’ là điều dễ hiểu nếu chúng ta nhìn nhận giáo dục bằng tư duy bình quân chủ nghĩa và bao cấp cũ kỹ. Nhưng dưới góc độ quản trị hệ thống hiện đại, đây là một ngộ nhận cần sớm được tháo gỡ triệt để.

Một hệ thống giáo dục đại học phát triển lành mạnh và bền vững phải là một hệ sinh thái đa dạng ‘phân vai’. Không một quốc gia nào có đủ nguồn lực để biến tất cả các trường đại học thành trường nghiên cứu đỉnh cao.

Mỗi cơ sở giáo dục đại học gánh vác một sứ mệnh riêng: các trường địa phương và trường ứng dụng thực hành tập trung vào việc phổ cập kỹ năng, cung ứng lực lượng lao động chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp địa phương và thúc đẩy bình đẳng cơ hội học tập.

Trong khi đó, đại học tinh hoa gánh vác sứ mệnh quốc gia ở tầm cao nhất: nghiên cứu cơ bản, làm chủ công nghệ nguồn và đào tạo nhân tài dẫn dắt. Sự phân vai này là phân công lao động, không phải phân chia đẳng cấp. Xóa bỏ cào bằng, dồn lực tạo ra những đỉnh cao chính là cách tối ưu hóa nguồn lực quốc gia.

 Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội trong lễ khai giảng, sáng 5/9/2026. Ảnh: HUST

Mặt khác, đại học tinh hoa không tồn tại cô lập trong ‘tháp ngà’. Khi các trường này bứt phá lên tầm cỡ thế giới, họ sẽ xác lập những chuẩn mực mới về học thuật, chất lượng đào tạo và nghiên cứu, thúc đẩy các trường đại học khác trong hệ thống tự cải tổ và nâng cao năng lực để cạnh tranh và hợp tác.

Đồng thời, đại học tinh hoa sẽ đóng vai trò là trung tâm chia sẻ tài nguyên: chia sẻ thư viện điện tử, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, chuyển giao công nghệ quản trị hiện đại, và là nơi bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên của các trường đại học khác. Sự bứt phá của đại học tinh hoa kéo theo sự nâng đỡ toàn diện cho cả hệ thống, đây chính là hiệu ứng ‘ngọn hải đăng’ nâng tầm toàn hệ thống.

Có lẽ trong thời đại ngày nay, cũng không mấy ai còn đòi hỏi một thứ chủ nghĩa bình quân cào bằng. Nhưng vì sao người ta vẫn đặt vấn đề về sự bất bình đẳng, hay nói chính xác hơn là băn khoăn về những đặc quyền bất công bằng?

Băn khoăn của xã hội về sự ‘bất bình đẳng’ không hẳn là thiếu căn cứ. Thực ra thì chúng ta đã ‘ngầm’ có các đại học ‘tinh hoa’ từ một phần ba thế kỷ nay rồi. Từ khi đất nước còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, Đảng và Nhà nước vẫn dành dụm đầu tư những khoản ngân sách khổng lồ cho một số cơ sở giáo dục đại học, mỗi cơ sở có lúc nhận cả ngàn tỷ đồng mỗi năm, đều như vắt chanh.

Trong khi đó, các cơ sở giáo dục đại học khác chỉ nhận được vài chục đến trăm tỷ đồng là nhiều; và từ năm 2014 đến nay, khi thể chế ‘tự chủ đại học’ ra đời, họ cũng không còn nhận được đồng nào từ ngân sách nhà nước nữa. Vậy nên, dư luận xã hội có quyền hỏi: trong mấy chục năm qua, các đại học ‘tinh hoa’ này đã làm được gì cho quốc kế dân sinh, có đáng đồng tiền bát gạo dân bỏ ra nuôi họ không?

Thành lập các đại học tinh hoa là tất yếu, nhưng với lao động trí tuệ, lao động chất xám, Nhà nước cần tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các cơ sở giáo dục đại học để cả hệ thống cùng phát triển.

Nên áp dụng cơ chế Nhà nước ‘ra đầu bài’, cơ sở giáo dục đại học nào thấy có khả năng ‘trả bài’ thì đăng ký và chịu trách nhiệm toàn diện về cam kết của họ với Nhà nước, với xã hội, bất kể trường công hay trường tư, tinh hoa hay ‘chưa’ tinh hoa! Trong môi trường cạnh tranh bình đẳng đó, không cơ sở nào có thể chỉ dựa vào tên tuổi, vào danh xưng để nhận đầu tư.

Nếu không muốn đại học tinh hoa chỉ dừng ở một danh xưng, chúng ta cần những điều kiện gì để các trường này thực sự có năng lực nghiên cứu đỉnh cao, cạnh tranh quốc tế và dẫn dắt hệ thống?

Xây dựng đại học tinh hoa tại Việt Nam không phải là câu chuyện chạy theo danh xưng, xếp hạng ảo hay tạo ra sự phân biệt ‘tầng lớp xã hội’ trong giáo dục đại học. Đó là một quyết sách mang tầm vóc thời đại nhằm kiến tạo các ‘ngọn hải đăng’ tri thức cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia.

Yêu cầu đặt ra với nhóm đại học tinh hoa là có năng lực nghiên cứu đỉnh cao, khả năng cạnh tranh quốc tế và giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời đào tạo nhân tài và tạo ra các sản phẩm khoa học, công nghệ có tác động lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và sự hội nhập của đất nước.

Để làm được như vậy, theo tôi, cần thực hiện bốn đột phá thể chế mang tính quyết định để phá bỏ các ràng buộc, rào cản nội tại kìm hãm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo bấy lâu nay.

 Đại học tinh hoa góp phần xác lập những chuẩn mực mới về học thuật, chất lượng đào tạo và nghiên cứu, thúc đẩy các trường đại học khác trong hệ thống tự cải tổ và nâng cao năng lực để cạnh tranh và hợp tác. Trong ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia TP HCM. Tác giả: Khắc Hiếu

Một là thực thi quyền tự do học thuật và tự chủ học thuật tuyệt đối. Đây là sinh mệnh của một đại học tinh hoa. Người thầy phải được tự do theo đuổi các ý tưởng khoa học mới, dù là khác biệt nhất; người học phải được khuyến khích tư duy phản biện, sáng tạo đột phá vượt qua các khuôn khổ lối mòn. Nhà trường phải được trao quyền tối cao trong việc xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo, mở các ngành học mới đón đầu xu thế công nghệ toàn cầu – như bán dẫn, AI, sinh học lượng tử – mà không bị kìm hãm bởi các quy trình kiểm duyệt hành chính xơ cứng, lạc hậu của cơ quan quản lý.

Hai là thiết lập cơ chế tài chính đột phá là quỹ hiến tặng độc lập và đầu tư dài hạn. Đại học tinh hoa không thể sống bằng học phí đại trà hay nguồn ngân sách cấp phát nhỏ giọt theo dòng ngân sách/năm kiểu cũ. Việt Nam cần khẩn trương ban hành luật cho phép xây dựng và vận hành các quỹ hiến tặng độc lập, cho phép nhà trường đầu tư sinh lời chuyên nghiệp và áp dụng chính sách miễn thuế tuyệt đối cho các doanh nghiệp, cá nhân đóng góp vào quỹ này. Đầu tư công của Nhà nước cho nhóm trường này phải chuyển đổi hoàn toàn sang cơ chế ‘đặt hàng’ dài hạn 5-10 năm dựa trên hiệu suất đầu ra. Đồng thời, cơ chế tài chính phải chấp nhận tỷ lệ rủi ro và thất bại trong nghiên cứu khoa học cơ bản và công nghệ nguồn. Nếu vẫn giữ tư duy kiểm toán cũ, coi thất bại là lãng phí ngân sách, thì các nhà khoa học sẽ chỉ dám làm những đề tài an toàn, quy mô nhỏ và đất nước sẽ không bao giờ có công nghệ đột phá.

Ba là đột phá quản trị nhân sự. Để thu hút những nhà khoa học xuất sắc nhất toàn cầu – gồm cả chuyên gia nước ngoài và trí thức kiều bào – chúng ta không thể áp dụng bảng lương công chức hành chính thông thường. Đại học tinh hoa phải được quyền tự chủ hoàn toàn trong việc thiết lập hệ thống lương thưởng cạnh tranh theo thị trường tự do, xứng tầm quốc tế, tuyển dụng ‘thần tốc’ các ngôi sao khoa học hàng đầu. Song song với đãi ngộ vượt trội, nhà trường phải áp dụng nghiêm ngặt mô hình thăng tiến học thuật theo chuẩn mực quốc tế: chỉ những người xuất sắc thực sự mới được giữ lại lâu dài, và sẵn sàng chấm dứt hợp đồng với những nhân sự không đáp ứng được yêu cầu về hiệu suất công việc, đối với cả lãnh đạo và nhà khoa học. Cơ chế tuyển dụng và sa thải linh hoạt mới tạo ra dòng chảy nhân tài liên tục và không ngừng.

Bốn là xóa bỏ cơ chế ‘bộ chủ quản’ và chuyên nghiệp hóa quản trị. Muốn vậy, nên xem xét thành lập Hội đồng trường ‘kiểu mới’: lấy Đảng ủy làm nòng cốt, mời thêm các chính khách, doanh nhân có tầm ảnh hưởng, nhà khoa học danh tiếng và đại diện cộng đồng cựu sinh viên thành đạt. Khi ấy Hội đồng trường tự nhiên sẽ trở thành cơ quan quyền lực thực chất và cao nhất. Hội đồng trường sẽ tuyển dụng và bổ nhiệm một Hiệu trưởng chuyên nghiệp có tầm nhìn toàn cầu để điều hành bộ máy hành chính, thực hiện quản trị trường học như một tổ chức sáng tạo tinh gọn, giải phóng hoàn toàn các giáo sư và nhà khoa học khỏi gánh nặng của thủ tục giấy tờ hành chính và các quy định phi khoa học khác.

Trân trọng cảm ơn ông đã chia sẻ!

https://tiasang.com.vn/